Tài nguyên dạy học

Các ý kiến mới nhất

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Hoàng Sanh)

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Vong_7__Bai_1_Lan_2.jpg Vong_7__Bai_1.jpg Countdown_mau4b_2.swf Countdown_mau4b.swf Countdown_0100_3.swf Countdown_0100_2.swf Countdown_0100_1.swf Countdown_0030_3.swf Countdown_0030_2.swf Countdown_0030_1.swf Countdown_0015_3.swf Countdown_0015_2.swf Countdown_0015_1.swf Countdown_0010_3.swf Countdown_0010_2.swf Countdown_0010_1.swf

    Chào mừng quý vị đến với Toán - Vật Lý ....Hoàng Sanh .

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
    Gốc > Bài viết > Vẻ đẹp toán học >

    Thời "hoàng kim" của Radium hay sự ấu trĩ của con người

    Thời "hoàng kim" của Radium 
    hay sự ấu trĩ của con người
    Ngay sau khi hai vợ chồng nhà khoa học người Pháp Pierre và Marie Curie công bố phát hiện radium, nguyên tố phóng xạ này ngay lập tức đã được các nhà công nghiệp khai thác một cách triệt để. Thị trường tràn ngập các sản phẩm liên quan tới radium: trong những viên thuốc chữa bệnh, trong các hộp kem chống nhăn của phái đẹp, trong thuốc đánh răng và trong cả nước khoáng. Tiến trình thương mại hóa rất thành công nguyên tố này dường như không có điểm dừng chỉ tới khi những nghi ngờ về tác hại của phóng xạ bắt đầu xuất hiện...



    Ra đời nguyên tố mới
    Ngày 26/10/1898: lễ công bố chính thức việc khám phá ra radium được rất nhiều người chú ý. Trước đó một năm, Marie Curie đã bắt đầu công việc nghiên cứu về các tia uranium được Henri Becquerel phát hiện ra vào năm 1896. bà cố tìm kiếm xem liệu uranium có phải là chất duy nhất phát ra các tia phóng xạ kiểu này. Chẳng bao lâu sau, bà nhận thấy rằng một loại quặng uranium (uraninit) hoạt động tích cực hơn nhiều so với uranium. tháng 7 năm 1989, trong một nhà kho của Trường Vật lý và Hóa học Paris, bà đã cùng chồng là PC phát hiện ra polonium. Tháng 12 năm đó, hai vợ chồng bà đã tách được radium...

    Việc phát hiện ra radium mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới mẻ cho cả ngành vật lý và hóa học. các công trình nghiên cứu liên tiếp ra đời ở Pháp, Đức, Anh, Áo, Canada và ngành công nghiệp non trẻ mới ra đời lúc đó phải khó khăn lắm mới đáp ứng đủ nhu cầu gia tăng cực nhanh về radium. tại Pháp, phòng thí nghiệm của hai vợ chồng Curie đã giúp đỡ, tạo động lực thúc đẩy ngành công nghiệp này bằng cách cung cấp các lời khuyên về kỹ thuật, đưa ra các tiến trình hóa học để xử lý quặng, và đào tạo các kỹ thuật viên... Nhưng các hiệu quả của radium không chỉ khiến các chuyên gia vật lý cơ bản quan tâm, nó dường như có những đặc tính rất tốt trong việc chữa trị bệnh. Những phát hiện đầu tiên về công dụng này thuộc về hai nhà nghiên cứu người Đức là Otto Walkhoff và Friedrich Giesel vào năm 1900. Họ cho rằng radium có khả năng chữa lành các bệnh liên quan tới da. Tháng 6.1901, Pierre Curie và Henri Becquerel cùng công bố kết quả nghiên cứu về tác dụng sinh lý của các tia radium. Tháng 11 năm đó, Henri Danlos, bác sĩ của bệnh viện Saint-Louis công bố các kết quả ban đầu về điều trị bệnh luput nhờ sử dụng radium. Hiệu quả chữa bệnh của radium trong việc chữa các bệnh về da cũng như ung thư da cũng rất khả quan. Phương pháp trị liệu sử dụng các tia radium đã được áp dụng đối với các bệnh nhân viêm da, ung thư và lao khi các phương pháp chữa trị khác đã bó tay. Sau khi giải Nobel về vật lý năm 1903 được trao cho Henri Becquerel và vợ chồng Curie, giới truyền thông tiếp tục ca ngợi về các tính chất kỳ diệu của nguồn năng lượng đặc biệt này.

    Thời hoàng kim
    Một nhà công nghiệp người Pháp tên Armet de Lislet có một nhà máy sản xuất quiquine cung cấp cho toàn thế giới rất quan tâm tới các liệu pháp chữa bệnh của nguyên tố phóng xạ này. Tại nhà máy mới chuyên để dùng tác radium của mình ở Nogent-sur-Marne, ông cố gắng nghiên cứu việc sản xuất nguyên tố quí giá này một cách tiết kiệm và kinh tế nhất. Chi nhánh thương mại "Ngân hàng radium" của ông cũng đưa ra một loạt các sản phẩm máy móc liên quan tới việc sản xuất radium. Tuy nhiên, quan tâm của ông tới chất phóng xạ này còn vượt quá phạm vi thương mại: ông tài trợ để hình thành và hoạt động phòng thí nghiệm sinh học radium. Đây có thể nói là phòng thí nghiệm đầu tiên trên thế giới nghiên cứu về tác dụng sinh học và chữa bệnh của radium. Chính trong phòng thí nghiệm này, Henri Dominici đã sáng chế ra được chiếc hộp thần kỳ (hộp hình ống làm bằng vàng, bạc hoặc bạch kim trong có chứa các muối radium để chữa các bệnh liên quan tới da và ung thư) sau này được thương mại hóa rất thành công.

    Trước thế chiến 1914, liệu pháp radium ít được sử dụng trong các cơ sở y tế trừ các trường hợp nguy kịch. Trong khoa da liễu, liệu pháp radium được coi là một liệu pháp đặc biệt, chỉ được sử dụng khi tất cả các liệu pháp chữa trị khác thất bại. Tuy nhiên, ở các nước khác, đặc biệt là ở Đức, các nhà phẫu thuật đã nhanh chóng các liệu pháp radium.
    Chiến tranh đã thúc đẩy nhanh hơn việc sử dụngliệu pháp này tại Pháp. Radium được các cơ sở quân y sử dụng rất nhiều. Ba trung tâm trị liệu bằng radium đã được hình thành tại Paris, Lyon và Bordeau. Từ năm 1916, Marie Curie (cùng với Đại học Paris và Viện Pasteur) cũng đã lập ra trong phòng thí nghiệm của mình ở Viện Radium Bộ phận phát xạ nhằm sản xuất các ống phát xạ (sau này được gọi là radon) để chữa các bệnh binh. Quân đội như vậy là nhà tiêu thụ radium lớn nhất, không chỉ cho mục đích chữa trị bệnh binh mà cả để sản xuất sơn phát sáng. Radium trong sơn có tác dụng kích hoạt sufulre kẽm làm sáng các màn hình, kim đồng hồ và nhiều thiết bị điện tử khác. Nước Pháp lúc đó có 4 nhà máy tách radium ở Nogent-sur-Marne, lle-Saint-Denis, Gif-sur-Yvette và Courbevoie. Tuy vậy, sản lượng radium vẫn không đủ cho nhu cầu ngày càng tăng cao của quân đội. Đ?c biệt khi cả nước Pháp mới chỉ phát hiện có một mỏ giàu radium. Do vậy, người ta phải kiếm tìm radium từ nước ngoài và tất nhiên giá thành tăng cao. Ngược lại, sản lượng sản xuất radium ngày càng tăng tăng nhờ các mỏ mới được phát hiện ở các bang Colorado và Utah. Đến cuối năm 1922, sản lượng radium của Mỹ đã chiếm 4/5 tổng sản lượng của thế giới. Nhờ sản lượng sản xuất gia tăng nhanh chóng (với sự tham gia của Bỉ) đã khiến giá thành nguyên tố này giảm xuống. Cơn lốc sản xuất các thiết bị radium đã lan tràn và rất nhiều nhà công nghiệp đã nhập cuộc. Đủ các loại ống thuốc chứa radium ra đời và tiêu thụ trên thị trường.

    Trong những năm 1920, một phát kiến mới liên quan tới liệu pháp chữa bệnh nhờ radium – curiethérapie (liệu pháp Curie) ra đời và có tên télécuriethérapie (liệu pháp Curie chữa bệnh từ xa). Năm 1926, nhóm nghiên cứu của Claudius Regard đã đưa liệu pháp này vào nước Pháp. Đây là sự kiện khởi đầu cho việc áp dụng các biện pháp chữa trị y tế với sự trợ giúp của các máy móc, thiết bị y tế lớn và đắt tiền.

    Radium không chỉ hấp dẫn giới y học. Trong những năm 1920-1930, việc sử dụng radium bắt đầu lan ra nhiều lĩnh vực khác nhau, từ chăn nuôi gia súc cho tới các sản phẩm chăm sóc sắc đẹp. Nhiều nhãn hiệu mỹ phẩm với những quảng cáo ấn tượng đã ra mắt người tiêu dùng. Thí dụ như loại kem chăm sóc da Tho-Radia, Activa hay Alpharadium. Người ta cũng thấy có cả các loại thuốc uống được sản xuất có sự tham gia của radium như Tuberadine để chữa bệnh viêm phế quản, Digéraldine giúp nhuận tràng hay Virogadine để chống lại mệt mỏi. Loại thuốc Radiumcure còn nổi tiếng nhờ công dụng giảm đau và chống viêm, Radiovie có tác dụng chữa các bệnh liên quan tới thần kinh và tâm thần.

    Một trong những sản phẩm cực kỳ thành công chính là nước ... phóng xạ. Thậm chí không chỉ nước mà người ta đã chế tạo ra những máy hít ...khí phóng xạ. Những quảng cáo hấp dẫn và những địa điểm chữa bệnh đã khiến liệu pháp chữa bệnh bằng radium trở thành một thứ mốt thời đó. Không chỉ con người được ... hưởng lợi nhờ các sản phẩm làm từ radium mà cả súc vật và cỏ cây cũng được “thơm lây”. Rất nhiều loại phân bón có nồng độ phóng xạ thấp đã đuợc giới thiệu tới nông dân...

    Kết cục
    Dần dần người ta cũng nhận thấy các tác hại của các tia phóng xạ. Những dấu hiệu bất ổn đầu tiên mà mọi người thấy chính ở những người công nhân trong các nhà máy sản xuất phóng xạ. Tại viện R ở Luân Đôn, nơi sản xuất các thiết bị chữa bệnh bằng radium đã xuất hiện nhiều cái chết không rõ nguồn gốc. Người ta bắt đầu lấy máu của tất cả nhân viên và công nhân tại đây để xét nghiệm bởi những dấu hiệu mang bệnh khác thường không thấy xuất hiện trước khi những người xấu số đột ngột qua đời. Các xét nghiệm hàng loạt trong một thời gian dài cho thấy có những thay đổi về số lượng hồng cầu trong máu, đặc biệt ỡn người có tiếp xúc nhiều với phóng xạ. Thế là những đợt kiểm tra sức khỏe và y tế được tiến hành hàng loạt tại nhiều nước trên thế giới: Mỹ, Thụy Điển và Pháp.
    Năm 1922, một cuộc điều tra lớn dưới sự tài trợ của công ty Rontgen đã được tiến hành trên gần 1000 người Mỹ làm việc tại các khu vực có phóng xạ. những câu hỏi điều tra thường gắn với các điều kiện làm việc, sức khỏe và người ta cũng lấy máu những người được điều tra để xét nghiệm. Song song với đó, một cuộc điều tra độc lập khác cũng được một công ty lớn của Mỹ tiến hành xung quanh việc sản xuất các sản phẩm có chất phóng xạ sử dụng trên người. Các kết quả của hai cuộc điều tra trên cũng tương tự như trên, nghĩa là có sự thay đổi về tế bào máu ở người có tiếp xúc với phóng xạ.

    Thế là tại những địa điểm làm việc có chất phóng xạ, người ta bắt đầu áp dụng các biện pháp bảo vệ con người, chống lại các tia phóng xạ. Những bức tường bằng chì hoặc bàn bọc chì đã được sử dụng tại một số địa điểm sản xuất và viện nghiên cứu về radium. Mặc dù vậy, trong sản xuất công nghiệp người ta dường như vẫn chưa quan tâm nhiều lắm tới tác hại của radium và không áp dụng các biện pháp cải thiện môi trường làm việc cho công nhân. Nhiều trường hợp ung thư tiếp tục được phát hiện ở các công nhân làm việc trong các môi trường có radium. Tại Pháp, các nhà nghiên cứu radium chết với các bệnh tật khó hiểu. Marcel Demalander và Maurice Demitroux chết vào năm 1924 sau nhiều tuần bệnh tật và bị kiệt sức. Chính Albert Laborde, cựu cộng sự của hai vợ chồng Curie lúc đó đang làm việc trong ngành công nghiệp radium cuối cùng đã tố cáo các điều kiện làm việc nguy hiểm, ngột ngạt không lỗ thông hơi. Người ta đã nhận thấy tác nhân giết người không phải ai khác chính là các tia phóng xạ của radium và radon.

    Năm 1925, một ủy ban bao gồm Marie Curie, Arsene D’Arsonval, Antoine Béclère, Paul Broca và Claudius Regaud đã trình lên Viện Hàn lâm Y học một báo cáo liên quan tới việc kiểm soát và quản lí chặt chẽ các cơ sở công nghiệp liên quan tới các chất phóng xạ. Cuối năm 1934, Bộ Lao động Pháp công nhận các công nhân và nhân viêc y tế mắc các bệnh liên quan tới radium là bệnh nghề nghiệp.

    Hình ảnh của radium đã thay đổi nhanh chóng dưới con mắt của đại chúng. Chất phóng xạ từ “thần dược” đã trở thành vật gây chết chóc khủng khiếp nhất. Nỗi lo sợ này càng gia tăng khi nhân loại chứng kiến những nạn nhân của bom nguyên tử ở Hiroshima và Nagashaki. Quan niệm về nguy cơ phóng xạ bắt đầu lan rộng vào những năm 1970 khi con người bắt đầu xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, đặc biệt là vấn đề xử lý rác thải hạt nhân.

    Nhắn tin cho tác giả
    Shin'ichi Kudou @ 23:10 11/11/2010
    Số lượt xem: 671
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến